


Bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ các hiện vật y khoa cổ đại mà còn là trung tâm nghiên cứu và giáo dục, kết nối thế hệ y học hiện tại với quá khứ và tương lai. Qua đó, bảo tàng mong muốn tạo ra một môi trường học thuật phong phú, giúp các sinh viên, nhà nghiên cứu và cộng đồng y tế hiểu rõ hơn về sự phát triển của y học, góp phần nâng cao chất lượng y tế và sức khỏe cộng đồng.
Sứ mệnh của bảo tàng còn bao gồm việc tạo điều kiện cho sự hợp tác quốc tế trong nghiên cứu y khoa, đồng thời thúc đẩy ý thức bảo vệ và tôn vinh các thành tựu y học, từ những bước đi đầu tiên cho đến những tiến bộ đột phá hiện đại.



Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một nhân vật lịch sử tiêu biểu trong phong trào cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Ông là người đã đề xuất các tư tưởng dân chủ và dân quyền sớm nhất và hùng hồn nhất tại Việt Nam. Suốt cuộc đời, ông kiên trì cổ vũ cho một giải pháp ôn hòa, chủ trương phát triển đất nước từng bước một bên trong hệ thống thuộc địa của Pháp.
Mang trong mình những hoài bão lớn, Phan Châu Trinh mong muốn bỏ cởi bỏ ách thống trị của người Pháp, giành lại chủ quyền cho đất nước, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang hàng với các dân tộc khác trên thế giới. Ông cổ xúy tinh thần yêu nước, quảng bá công cuộc Duy Tân, đem tâm huyết, tác phẩm và cả cuộc đời để đóng góp vào sự nghiệp chung.
Phan Châu Trinh tên chữ là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hi Mã. Ông sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam). Cha ông là Phan Văn Bình làm quan võ, mẹ của ông họ Lê, con nhà vọng tộc ở làng Phú Lâm. Ông là con út trong gia đình có ba người con, mẹ ông mất sớm, 10 tuổi ông mới đi học.
Từ khi còn trẻ tuổi, Phan Châu Trinh đã là người thông minh, khẳng khái. Ông đi tới đâu nổi tiếng đến đó, việc không kể lớn nhỏ cứ lấy lẽ phải mà tranh biện.
Năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang, và Phạm Liệu.
Khoa Canh Tý (1900), Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên. Năm sau (1901), triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.
Năm 1902 ông ở Huế để chờ bổ nhiệm chức vụ, tuy nhiên do anh cả của ông mất nên ông đã về nhà để dạy học. Năm 1903 ông lại được cử làm Thừa biện bộ Lễ. Ông ở Huế được mấy năm đã nghiên cứu được cái nguyên nhân hủ bại của triều đình và lại được giao du được với những người tân học như Trần Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ. Ông cũng đọc được nhiều sách mới, báo mới. Từ ấy về sau ông quyết chí bỏ quan, tìm bạn đồng chí đem học thuyết tư tưởng mới mà truyền bá để trừ cái độc chuyên chế và tệ nho học ở nước mình. Phan Bội Châu ở Nghệ An vào Huế gặp ông để bàn bạc về canh tân đất nước, tuy nhiều ý kiến, quan điểm không giống nhau nhưng cả hai đều có chí hướng thay đổi tình cảnh của nước mình. Năm 1903 ông từ quan, cùng bạn đồng chí là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân.
Đầu năm 1906, ông ra miền Bắc để gặp các thân sĩ Bắc Kì chuẩn bị thành lập cơ sở duy tân tại Hà Nội (sau này là trường Đông Kinh nghĩa thục), ghé thăm chiến khu Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, rồi thẳng đường sang Trung Quốc, Nhật Bản để thương thảo về “sách lược” và “chiến lược” với Phan Bội Châu, đồng thời tham quan và nghiên cứu các cơ sở duy tân tự cường của Nhật. Cuối năm này ông về nước gửi bức thư chữ Hán (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ thư) cho Toàn quyền Paul Beau vạch trần chế độ quân chủ chuyên chế thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai trị để giúp người Việt từng bước tiến lên văn minh.
Sau khi từ Nhật Bản về, ông cùng các thân sĩ miền Bắc chính thức lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội và tại nơi đây ông đã diễn thuyết nhiều lần hô hào nhân dân duy tân, tự cường.



Năm 1925, chính sách thực dân có một vài thay đổi nhỏ, nhân cơ hội đó Phan Châu Trinh được chấp thuận để về Tổ quốc Tháng 6 năm 1925. Cùng về nước với ông có Nguyễn An Ninh. Tàu vừa cập bến Sài Gòn ông đã được đông đảo đồng bào đây đón rước niềm nở. Ông về ngụ tại số 54 đường Pellerin bên cạnh đó còn có Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường và Trần Huy Liệu.
Từ ngày về nước ông phải làm việc gấp bội nên trong một thời gian ngắn bệnh cũ của ông tái phát trầm trọng. Tuy vậy trong thời gian này ông đã tổ chức hai buổi diễn thuyết tại Hội Thanh niên Sài Gòn về “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”, “Đạo đức và luân lí Đông Tây”.
Ông trút hơi thở cuối cùng vào 9:30 tối ngày 24/03/1926 tại “khách quán” số 54 đường Pellerin Sài Gòn (nay là đường Pasteur).
